Ảnh minh họa
Samsung hoạt động đầu tư tại Việt Nam bắt đầu từ năm 2008 với dự án xây dựng nhà máy sản xuất điện thoại giai đoạn 1 tại Bắc Ninh (cũ), quy mô 670 triệu USD. Đến nay, Samsung đang vận hành 6 nhà máy sản xuất, 1 Trung tâm nghiên cứu và phát triển, 1 pháp nhân bán hàng tại Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Tính đến cuối năm 2024, tổng vốn đầu tư của Samsung đã thực hiện đạt khoảng 23,2 tỷ USD, trở thành doanh nghiệp FDI lớn nhất tại Việt Nam. Tổng số nhân viên của Samsung khoảng 87.000 người. Năm 2024, 6 nhà máy sản xuất của Samsung Việt Nam đạt doanh thu 62,5 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu 54,4 tỷ USD.
Mới đây, tại buổi làm việc với tỉnh Bắc Ninh vào 9/7, Samsung khẳng định sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam thông qua các chương trình cải tiến nhà máy thông minh, tư vấn kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm quản trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đến năm 2030.
Thành công của Samsung tại Việt Nam cũng phản ánh hành trình vươn lên của tập đoàn này. GS. Trần Văn Thọ - Giáo sư danh dự Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản cho biết, Samsung là trường hợp điển hình thành công trong nỗ lực đuổi theo trong nguồn lực kinh doanh (NLKD) của Hàn Quốc.
Thành lập năm 1969, Samsung bắt đầu bằng việc du nhập công nghệ từ Nhật và Mỹ. Samsung nhập công nghệ đồ điện gia dụng từ Sanyo của Nhật, nhập khẩu linh kiện và lắp ráp TV trắng đen, máy giặt và tủ lạnh.
Đến giữa thập niên 1980, Samsung quyết định mở rộng hoạt động sang ngành bán dẫn. Công ty đã mua hợp đồng công nghệ DRAM từ các công ty bán dẫn của Mỹ như Microchip, Signetics và Texas Instruments; hợp đồng với NEC, Fujitsu, Htachi của Nhật để mua công nghệ sản xuất và máy chế tạo bán dẫn. Cuối thập niên 1980, Samsung đã tự mình nghiên cứu và chế tạo được 1M DRAM.
Đến đầu thập niên 1990, trên thị trường DRAM, Samsung đã cạnh tranh được với Nhật. Đặc biệt vào năm 1992, Samsung là công ty đầu tiên trên thế giới thành công trong việc chế tạo 64M DRAM. Từ giữa thập niên 1990, Samsung trở thành top của thế giới về bán dẫn và điện thoại thông minh. Đây là thời điểm đánh dấu chuyển từ du nhập sang tự chủ công nghệ.
Từ thập niên 2000, Samsung đầu tư mạnh trong nghiên cứu và triển khai (R&D), mua và sáp nhập (M&A) nhiều công ty của Mỹ và Tây Âu, và trở thành tập đoàn đa quốc gia lớn mạnh. Như vậy, khoảng 10 năm đầu (thập niên 1970) Samsung dựa vào công nghệ Nhật, 10 năm tiếp theo du nhập công nghệ Mỹ và từ thập niên 1990, hoàn toàn tự mình sáng tạo công nghê. Từ thập niên 2000 Samsung trở thành công ty hàng đầu thế giới.
Như vậy, Samsung chỉ dựa vào công nghệ nước ngoài 20 năm đầu, 10 năm tiếp theo tự chủ được công nghệ và 10 năm kế tiếp dẫn đầu thế giới. Một kỳ tích dùng lợi thế của công ty đi sau và thành công ngoạn mục trong việc tích lũy, đuổi theo và vượt nước ngoài trong NLKD.