Trong bối cảnh hiện nay việc ứng dụng công nghệ vào khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo ra những trải nghiệm mới, gia tăng sức hấp dẫn của các điểm đến và nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, hiệu quả thực tế hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do thiếu sự đồng bộ trong hệ sinh thái số.
Thực trạng ứng dụng công nghệ trong du lịch
Trao đổi với Người Đưa Tin, Kiến trúc sư (KTS) Đinh Việt Phương, Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế và Giải pháp công nghệ 3DART, đồng thời là người đứng đầu nhóm 3D Hà Nội tiên phong ứng dụng công nghệ 3D để "hồi sinh" các giá trị di sản, cho rằng nền tảng công nghệ được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất trong lĩnh vực du lịch hiện nay vẫn là hệ sinh thái của Google, đặc biệt là Google Maps.

Hoàng thành Thăng Long là điểm đến hấp dẫn được đánh giá 4,4 sao trên Google Maps.
Theo ông Phương, trên phạm vi toàn cầu, Google Maps đã trở thành công cụ quen thuộc giúp du khách tìm đường, khám phá điểm đến và kết nối với các dịch vụ du lịch. Tại Việt Nam, nhiều địa phương cũng đã bắt đầu xây dựng bản đồ số phục vụ quảng bá du lịch, song mức độ ứng dụng vẫn còn hạn chế.
"Hiện nay, một số địa phương đã triển khai bản đồ số cho du lịch, tuy nhiên hiệu quả chưa cao. Phần lớn khách du lịch vẫn ưu tiên sử dụng Google Maps bởi hệ sinh thái đầy đủ, thuận tiện và đã hình thành thói quen sử dụng", ông Phương nhận định.
Ông cũng cho biết, các nền tảng đặt phòng và du lịch trực tuyến như Agoda, Booking hay Airbnb đều tích hợp chặt chẽ với hệ sinh thái Google, giúp người dùng dễ dàng lên kế hoạch, tìm kiếm thông tin và di chuyển trong suốt hành trình.
Đối với Việt Nam, ông Đinh Việt Phương cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ mà ở cách triển khai.
Theo ông, nhiều địa phương đều phát triển ứng dụng du lịch riêng, sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau, thiếu khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu. Điều này khiến công tác quảng bá trở nên phân tán, trong khi du khách lại có xu hướng tiếp tục sử dụng những nền tảng quen thuộc như Google Maps, Agoda, Booking hay Airbnb.
"Điểm nghẽn lớn nhất chính là sự thiếu đồng bộ giữa các công cụ phát triển du lịch của các địa phương. Mỗi nơi một ứng dụng riêng khiến việc truyền thông, quảng bá và tiếp cận khách du lịch trở nên khó khăn hơn rất nhiều", KTS Đinh Việt Phương nhấn mạnh.
Hướng tới một ứng dụng du lịch quốc gia thống nhất

Nhiều du khách tìm đến làng tăm hương Quảng Phú Cầu sau khi nhìn thấy những đánh giá và bình luận tốt trên Google Maps.
Để tối ưu hóa tài nguyên và nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Việt Nam, KTS Đinh Việt Phương đề xuất giải pháp thay thế các ứng dụng đơn lẻ bằng một ứng dụng du lịch quốc gia thống nhất.
Theo ông, ứng dụng này sẽ đóng vai trò là hệ sinh thái chung, nơi tất cả các tỉnh, thành phố tham gia như những đơn vị thành viên, chủ động cập nhật thông tin, xây dựng tour, giới thiệu sản phẩm, quảng bá dịch vụ và kết nối với các doanh nghiệp địa phương.
"Chỉ cần một ứng dụng du lịch chung của Việt Nam, khách trong nước và quốc tế chỉ cần cài một lần là có thể tiếp cận toàn bộ hệ thống dịch vụ, điểm đến trên cả nước", ông đề xuất.
Ông cho rằng cách làm này không chỉ giúp tiết kiệm nguồn lực truyền thông, thống nhất dữ liệu mà còn tạo điều kiện triển khai các chương trình ưu đãi, quảng bá quy mô quốc gia, từ đó khuyến khích du khách sử dụng nền tảng và gia tăng thời gian lưu trú cũng như mức chi tiêu tại điểm đến.
"Quan trọng nhất vẫn là sự thống nhất. Nếu mỗi tỉnh đều có một ứng dụng với những tiêu chuẩn khác nhau thì sẽ rất khó quản lý, khó quảng bá và khó tạo ra một hệ sinh thái du lịch số đủ mạnh để cạnh tranh", ông Đinh Việt Phương nhấn mạnh.
Đề xuất này cũng phù hợp với định hướng lớn về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên số được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam diễn ra sáng 13/7.
Tại phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá qua nửa năm triển khai Nghị quyết số 80 chúng ta đã hoàn thành một khối lượng công việc lớn, góp phần thúc đẩy ổn định và phát triển xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đang bộc lộ "bốn khoảng trống" lớn cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục.
Một trong những khoảng trống đáng chú ý là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Tuy nhiên, phần lớn kho tàng di sản ấy vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được bảo hộ, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ; chưa trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy để biến vốn văn hóa thành sức mạnh mềm và động lực phát triển mới của đất nước.
Cũng tại phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị quán triệt chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.
Những định hướng này được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng để đẩy mạnh số hóa di sản, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu thống nhất và phát triển nền tảng du lịch số quy mô quốc gia, qua đó đưa các giá trị văn hóa đến gần hơn với công chúng, đồng thời biến di sản trở thành nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
Quốc Tiệp