Từ mức lương 30 triệu/tháng đến chấm dứt hợp đồng lao động
Ngày 23/9/2019, bà Trương Thị Minh H. (TPHCM) ký hợp đồng lao động có thời hạn một năm với Ngân hàng B. - Chi nhánh TP H., làm nhân viên giám sát tuân thủ, mức lương 30 triệu đồng/tháng. Hợp đồng có thời hạn từ ngày 23/9/2019 đến hết ngày 22/9/2020.
Theo bà H., khoảng 30 ngày trước khi hợp đồng hết hạn, bà đã hỏi người đại diện theo pháp luật của ngân hàng thời điểm đó về việc ký tiếp hợp đồng lao động. Sau khi thống nhất với ngân hàng mẹ vào ngày 25/8/2020, người đại diện này xác nhận bằng lời nói sẽ tiếp tục ký hợp đồng lao động với bà, đồng thời đề xuất tăng lương từ 30 triệu đồng lên 35 triệu đồng/tháng do bà phải kiêm nhiệm thêm công việc kế toán và hành chính nhân sự.
Bà H. cho biết ngày 23 và 24/9/2020, bà vẫn đến làm việc tại Ngân hàng B. Tuy nhiên, ngày 25/9/2020, bà đến ngân hàng nhưng không thể làm việc vì hệ thống máy tính đã bị khóa từ ngày hôm trước. Sau đó, bà được yêu cầu sắp xếp nghỉ việc do lãnh đạo mới của chi nhánh không đồng ý ký tiếp hợp đồng lao động.
Theo bà H., sau khi hợp đồng hết hạn, bà vẫn tiếp tục làm việc nên hai bên phải xem xét ký hợp đồng mới. Bà cũng cho rằng, Ngân hàng B. không thông báo bằng văn bản trước khi hợp đồng lao động xác định thời hạn chấm dứt.
Đến 13h ngày 25/9/2020, Ngân hàng B. đưa cho bà H. biên bản bàn giao, xác nhận bà không còn là nhân viên của ngân hàng kể từ 13h21 cùng ngày, kèm theo quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ghi ngày 23/9/2020.
Hợp đồng hết hạn, không được ký tiếp, nhân viên ngân hàng lương 30 triệu/tháng đòi bồi thường hơn 1 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Cho rằng mình bị ngân hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, bà H. khởi kiện, yêu cầu Ngân hàng B. bồi thường và nhận bà trở lại làm việc.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H. giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Ngân hàng B. phải trả tiền do vi phạm thời hạn báo trước là 45 triệu đồng; tiền lương trong thời gian không được làm việc tính đến ngày xét xử là hơn 36 tháng cùng 2 tháng tiền lương theo hợp đồng, tổng cộng hơn 1,1 tỷ đồng, cùng các khoản bảo hiểm theo quy định.
Trường hợp ngân hàng không nhận bà trở lại làm việc, bà yêu cầu được thanh toán thêm 4 tháng tiền lương là 120 triệu đồng.
Trong khi đó, Ngân hàng B. cho rằng, hợp đồng lao động giữa hai bên đã chấm dứt do hết hạn, không phải ngân hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Trong quá trình làm việc, bà H. nhiều lần đề xuất tăng lương nhưng không được chấp thuận. Hai bên đã trao đổi rằng nếu bà H. không hài lòng thì hợp đồng sẽ chấm dứt khi hết hạn.
Ngày 22/9/2020, ngân hàng đã ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động và khóa tài khoản làm việc của bà H. vào cuối ngày. Bà H. biết hợp đồng không được gia hạn và đã đề nghị đến văn phòng ngày hôm sau để bàn giao công việc.
Ngân hàng cho rằng, ngày 23/9/2020, bà H. đến bàn giao công việc nhưng không nhận quyết định chấm dứt hợp đồng. Ngày 24/9, bà tiếp tục đến văn phòng nhưng vẫn không nhận quyết định chấm dứt hợp đồng và không đồng ý ký tên vào biên bản bàn giao. Do đó, lãnh đạo ngân hàng đã gửi email thông báo chấm dứt hợp đồng và đính kèm quyết định.
Sau khi xảy ra xô xát, bà H. đồng ý ký biên bản bàn giao quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Ngày 29/9/2020, Ngân hàng B. thanh toán tiền lương tháng 9/2020 cho bà H.
Cấp sơ thẩm yêu cầu bồi thường hơn 1 tỷ đồng, tòa phúc thẩm bác yêu cầu
Bản án sơ thẩm của TAND Quận 1, TPHCM chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H. Tòa buộc Ngân hàng B. bồi thường 45 triệu đồng do vi phạm thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Ngoài ra, ngân hàng phải trả tiền lương cho thời gian bà H. không được làm việc từ ngày 25/9/2020 đến ngày 27/9/2023, tương đương 36 tháng 2 ngày, với số tiền 1,082 tỷ đồng; đồng thời bồi thường thêm 2 tháng tiền lương theo hợp đồng là 60 triệu đồng. Tổng cộng khoản này là 1,142 tỷ đồng.
Tòa sơ thẩm cũng buộc ngân hàng trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo mức lương 30 triệu đồng/tháng cho thời gian bà H. không được làm việc.
Tuy nhiên, tòa không chấp nhận yêu cầu của bà H. về việc bồi thường thêm tiền lương do ngân hàng không nhận bà trở lại làm việc.
Không đồng ý, Ngân hàng B. kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ngân hàng cho rằng khi hợp đồng lao động hết hạn, không có thỏa thuận nào thể hiện ngân hàng đồng ý để bà H. tiếp tục làm việc. Phía ngân hàng cũng cho rằng bà H. biết rõ hợp đồng hết hạn và có tin nhắn trao đổi về việc đến văn phòng bàn giao công việc.
Trong quá trình giải quyết vụ án phúc thẩm, tòa xác minh việc thi hành án. Kết quả cho thấy, theo đơn yêu cầu thi hành án của bà H., cơ quan thi hành án đã ban hành quyết định thi hành khoản tiền lương 1,082 tỷ đồng. Ngân hàng B. sau đó đã nộp số tiền này cùng tiền lãi và cơ quan thi hành án đã chuyển tiền cho bà H. vào ngày 24/1/2024.
Tại phiên tòa, bà H. xác nhận đã nhận 1,082 tỷ đồng tại cơ quan thi hành án và đã chi tiêu hết số tiền này.
Xét kháng cáo, cấp phúc thẩm xác định hợp đồng lao động giữa bà H. và Ngân hàng B. là hợp đồng có thời hạn một năm, hết hạn ngày 22/9/2020.
HĐXX xem xét các tin nhắn WhatsApp và thư điện tử được lập vi bằng. Dù bà H. thừa nhận số điện thoại và địa chỉ email liên quan là của mình nhưng không thừa nhận đã gửi các tin nhắn, tòa vẫn xác định đây là chứng cứ hợp lệ. Nội dung tin nhắn thể hiện bà H. biết ngày 22/9/2020 là ngày cuối cùng của hợp đồng và thông báo hôm sau sẽ đến bàn giao công việc rồi rời đi.
Cùng với việc tài khoản làm việc của bà H. bị khóa từ ngày 24/9/2020 và các tài liệu liên quan đến sự việc ngày 25/9/2020, HĐXX cho rằng không có căn cứ xác định bà H. tiếp tục làm việc sau khi hợp đồng hết hạn. Do đó, việc tòa sơ thẩm xác định hai bên phát sinh hợp đồng lao động không xác định thời hạn là chưa phù hợp.
Về quyết định chấm dứt hợp đồng, tòa xác định người ký quyết định theo giấy ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của ngân hàng. Vì vậy, quyết định chấm dứt hợp đồng giao với bà H. được xác định là hợp lệ.
Từ đó, tòa phúc thẩm kết luận giữa bà H. và Ngân hàng B. không tồn tại hợp đồng lao động không xác định thời hạn như bà H. trình bày. Ngân hàng B. không đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như nhận định của cấp sơ thẩm.
HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng B., sửa một phần bản án sơ thẩm và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H., gồm các yêu cầu bồi thường 45 triệu đồng tiền vi phạm thời hạn báo trước; hơn 1,1 tỷ đồng tiền lương và bồi thường; các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; cũng như yêu cầu được nhận trở lại làm việc hoặc nhận 120 triệu đồng nếu ngân hàng không đồng ý nhận lại.
(Bài viết dựa trên Bản án số 94/2024/LĐ-PT ngày 28/8/2024 của TAND TPHCM).