Khởi kiện sau khi bị từ chối chi trả bảo hiểm
Ngày 9/11/2020, một hợp tác xã ở Vĩnh Long ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với Công ty TNHH B. Theo hợp đồng, hợp tác xã là bên mua bảo hiểm, ông Nguyễn Văn T. là người được bảo hiểm và ông Lê Văn C. là người thụ hưởng.
Hợp đồng gồm sản phẩm bảo hiểm chính giá trị 700 triệu đồng và sản phẩm bảo hiểm bổ trợ bảo hiểm chết, tàn tật do tai nạn mở rộng, giá trị 1 tỷ đồng.
Ngày 10/11/2020, Công ty TNHH B cấp giấy chứng nhận bảo hiểm nhân thọ và thu khoản phí bảo hiểm đầu tiên hơn 17,7 triệu đồng. Hai ngày sau, doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận thay đổi người thụ hưởng thành ông Lê Văn C.
Ngày 28/9/2021, ông T. qua đời. Sau đó, ông C. gửi hồ sơ yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng, trước khi tham gia bảo hiểm, ông T. từng được chẩn đoán “cơn đau thắt ngực, loạn nhịp tim khác” nhưng trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm không kê khai thông tin này. Vì vậy, doanh nghiệp bảo hiểm từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm.
Bị từ chối chi trả bảo hiểm, người thụ hưởng được tòa buộc doanh nghiệp trả gần 1 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Không đồng ý với việc từ chối này, ông Lê Văn C. khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH B. thanh toán 700 triệu đồng tiền bảo hiểm và tiền lãi chậm thanh toán.
Xét xử sơ thẩm, TAND Khu vực 1 TPHCM chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C., buộc Công ty TNHH B. thanh toán 700 triệu đồng tiền bảo hiểm và hơn 267 triệu đồng tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 23/9/2025.
Không đồng ý với phán quyết này, Công ty TNHH B. kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tòa phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của doanh nghiệp bảo hiểm
Tại phiên tòa phúc thẩm, doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng, cấp sơ thẩm xác định hợp tác xã và ông Nguyễn Văn T. có "quyền lợi có thể được bảo hiểm" trên cơ sở quan hệ giữa hợp tác xã và thành viên là không phù hợp với Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Luật Hợp tác xã năm 2012.
Ngoài ra, văn bản của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện C. xác nhận ông Nguyễn Văn T. là thành viên hợp tác xã không đủ căn cứ để xác định tư cách thành viên của ông tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Xem xét kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã và văn bản của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện C. thể hiện ông T. là thành viên hợp tác xã từ ngày 1/6/2019, trước thời điểm ký hợp đồng bảo hiểm.
Theo tòa, khi tham gia hợp tác xã, xã viên được hưởng các quyền của thành viên theo Luật Hợp tác xã năm 2012, trong đó có quyền được hưởng các phúc lợi của hợp tác xã. Việc hợp tác xã mua bảo hiểm nhân thọ cho ông T. là một trong những phúc lợi dành cho thành viên, nên đây chính là “quyền lợi có thể được bảo hiểm”.
Hội đồng xét xử cũng cho biết, theo lời khai của nguyên đơn, Công ty TNHH B. đã ký tổng cộng 19 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tương tự cho các xã viên của hợp tác xã, trong đó đều có cùng người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là ông Lê Văn C.
Về lập luận cho rằng ông T. không đủ điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã, Hội đồng xét xử nhận định bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh nội dung này. Việc kết nạp thành viên thuộc thẩm quyền của hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã. Trong khi đó, hợp tác xã xác định việc kết nạp ông T. được thực hiện đúng quy định và việc kê khai khi tham gia bảo hiểm là trung thực.
Trước khi ký hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền xem xét hồ sơ đăng ký mua bảo hiểm, xác minh điều kiện của bên mua, người được bảo hiểm và người thụ hưởng để quyết định có giao kết hợp đồng hay không.
Trên thực tế, Công ty TNHH B. đã xem xét hồ sơ, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, xác định ông T. là người được bảo hiểm, ông C. là người thụ hưởng và thu phí bảo hiểm.
Cũng theo Hội đồng xét xử, ông Nguyễn Văn T. qua đời ngày 28/9/2021. Hồ sơ vụ án có bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh Q. thể hiện từ ngày 2 đến 5/5/2021, ông T. được chẩn đoán tiêu chảy, nhiễm trùng.
Đồng thời, hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào xác định ông T. tử vong do các bệnh liên quan đến tim. Vì vậy, không có mối quan hệ nhân quả giữa các triệu chứng “cơn đau thắt ngực, loạn nhịp tim” từng được chẩn đoán với việc ông T. tử vong.
Từ đó, tòa cho rằng việc công ty bảo hiểm từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm cho ông C. đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thụ hưởng, nên yêu cầu thanh toán 700 triệu đồng tiền bảo hiểm là có căn cứ.
Hội đồng xét xử cũng xác định sau khi ông T. qua đời, ông C. đã cung cấp hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo quy định. Tuy nhiên, ngày 26/10/2021, công ty bảo hiểm thông báo từ chối chi trả. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả lãi chậm thanh toán theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Hội đồng xét xử nhận định cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ chứng cứ, giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Công ty TNHH B.
Từ đó, TAND TPHCM quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc Công ty TNHH B. thanh toán cho ông C. 700 triệu đồng tiền bảo hiểm và hơn 267 triệu đồng tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 23/9/2025.