GDP bình quân từng xếp thứ 185/188, Việt Nam dần trở thành nền kinh tế “như rồng bay lên” thế nào?

Admin

26/05/2026 16:40

Việt Nam đã thay đổi thế nào sau 40 năm Đổi mới?

Đầu thập niên 1980, Việt Nam là một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung với những hạn chế ngày càng bộc lộ rõ. Tuy nhiên, năm 1986 trở thành dấu mốc đặc biệt khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng. TS. Nguyễn Đình Cung cho biết, đây là cột mốc mang tính “bẻ gãy”, khi tư duy cũ không còn phù hợp và buộc phải thay bằng một hướng đi mới.

Vào thời điểm đó, Việt Nam nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, GDP bình quân chỉ dao động từ 125 đến 200 USD/năm (xếp thứ 185/188 thế giới), theo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vào tháng 12/1986 đã đưa ra quyết định mang tính lịch sử: Đổi mới. Đây không chỉ là đổi mới kinh tế, mà còn là cuộc cách mạng về tư duy phát triển. Việt Nam chính thức chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới. Đại hội cũng thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm trong đường lối phát triển trước đó, tạo nền tảng cho giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sau bước ngoặt này, năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên được ban hành nhằm thu hút dòng vốn FDI để tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, phải đến đầu thập niên 1990, nền kinh tế mới dần ổn định trở lại. Trước đó, Việt Nam từng trải qua giai đoạn lạm phát nghiêm trọng, có thời điểm tăng tới hơn 700%/năm.

Tại thời điểm đó, Việt Nam đã triển khai hàng loạt biện pháp quyết liệt để kiểm soát lạm phát và khôi phục niềm tin vào nền kinh tế. Điển hình là việc áp dụng chính sách lãi suất dương khi lạm phát từng lên tới khoảng 9%/tháng. Tổ công tác đặc biệt khi đó đề xuất nâng lãi suất tiền gửi cao hơn tỷ lệ lạm phát để hút tiền trong dân, GS. TSKH Nguyễn Mại cho biết.

Theo GS. TSKH Nguyễn Mại, lúc đó Việt Nam chưa có điều kiện tự in tiền, phải nhờ Liên Xô in và vận chuyển về với chi phí khoảng 15%. Vì vậy, việc nâng lãi suất tiết kiệm lên 12%, cao hơn lạm phát khoảng 3%, vừa giúp hạn chế phải in thêm tiền, vừa củng cố niềm tin của người dân vào chính sách tiền tệ. Kết quả là lượng tiền gửi tăng mạnh, cung – cầu dần cân bằng, lạm phát giảm xuống còn khoảng 5%, hàng hóa trở nên dồi dào hơn và sản xuất bắt đầu phục hồi.

Song song với việc ổn định kinh tế vĩ mô, Việt Nam cũng phát đi thông điệp mạnh mẽ về chính sách mở cửa. Tại Diễn đàn Đầu tư nước ngoài tổ chức năm 1991 ở TP.HCM, Việt Nam khẳng định sẽ bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư quốc tế, sửa đổi Hiến pháp để cam kết không trưng thu, trưng mua hay áp đặt các biện pháp ảnh hưởng đến tài sản của nhà đầu tư nước ngoài.

Dù nhận thức rõ rằng mở cửa kinh tế đồng nghĩa với việc phải chấp nhận cả những mặt trái, nhưng Việt Nam xác định nếu không mở cửa thì không thể phát triển. Chính lựa chọn đó đã tạo nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng kéo dài suốt nhiều thập niên sau này.

Sau gần 40 năm Đổi mới, kinh tế Việt Nam đã thay đổi mạnh mẽ. Riêng giai đoạn 2016–2025, quy mô GDP gần như tăng gấp đôi, vượt 510 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người từ mức rất thấp trong những năm đầu Đổi mới đã tăng lên hơn 5.000 USD/người.

Vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới cũng được cải thiện đáng kể. Việt Nam hiện nằm trong nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu, đồng thời thuộc top 20 quốc gia dẫn đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Từ vị thế từng bị bao vây, cấm vận, đến tháng 10/2024, Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 đối tác trên thế giới.

Nếu trước đây sản xuất trong nước chủ yếu chỉ đáp ứng các nhu cầu thiết yếu, thì hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo và điện tử hàng đầu thế giới.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, chìa khóa của thành công trong 40 năm Đổi mới nằm ở việc giải phóng sức sản xuất và tạo không gian phát triển cho các thành phần kinh tế.

Cùng với đó, GS. TSKH Nguyễn Mại nhận định, Việt Nam đã chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Trong đó, đầu tư nước ngoài không chỉ thúc đẩy tăng trưởng và thay đổi cơ cấu kinh tế, mà còn tạo điều kiện để người dân tích lũy vốn, kết hợp với nguồn kiều hối từ nước ngoài gửi về để hình thành hàng vạn doanh nghiệp trong nước.

Nếu trước đây hầu hết các dự án lớn từ cầu, đường đến khu công nghiệp đều phụ thuộc vào vốn và công nghệ nước ngoài, thì nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đủ năng lực làm chủ. Các tập đoàn như Vingroup, Sun Group, Hòa Phát… đã có thể tự thi công, vận hành nhiều dự án quy mô lớn. Theo GS. TSKH Nguyễn Mại, Việt Nam không nên phủ nhận vai trò của FDI, nhưng cần chuyển dần sang thời kỳ mới, trong đó doanh nghiệp nội địa phải đóng vai trò trung tâm.

Không chỉ phát triển trong nước, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã vươn ra quốc tế. Các tập đoàn lớn như Viettel, EVN, PVN… mở rộng hoạt động ra nước ngoài. Trong khi đó, Vingroup đầu tư sang Mỹ, phát triển các lĩnh vực công nghệ hiện đại như ô tô điện, xe buýt điện, đồng thời tổ chức giải thưởng khoa học quốc tế VinFuture trị giá 5–6 triệu USD mỗi năm, được ví như “Nobel của Việt Nam”.

Sự thay đổi của Việt Nam cũng ngày càng được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Mới đây, ngày 2/5, sau cuộc hội đàm tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae bày tỏ vui mừng khi có cơ hội tới thăm Việt Nam và xác nhận rằng Nhật Bản sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam, một quốc gia đang đẩy mạnh cải cách trong thời đại mới trên cơ sở quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

"Việt Nam, đúng như tên gọi khác của Hà Nội là Thăng Long - nghĩa là "rồng bay lên", đang phát triển với tốc độ hết sức ấn tượng. Trong những năm gần đây, với vai trò là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đã mở rộng đầu tư vào Việt Nam. Đồng thời, trong bối cảnh tình hình quốc tế ngày càng phức tạp, Việt Nam đã đề cao tự chủ chiến lược và triển khai đường lối đối ngoại tích cực, chủ động", Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae nhấn mạnh.

Bạn đang đọc bài viết "GDP bình quân từng xếp thứ 185/188, Việt Nam dần trở thành nền kinh tế “như rồng bay lên” thế nào?" tại chuyên mục Đầu tư. Mọi bài vở cộng tác xin gửi về địa chỉ email ([email protected]).