Đường sắt tốc độ cao: Từ làm chủ công nghệ đến xây dựng năng lực công nghiệp đường sắt

Admin

11/10/2026 13:00

Để triển khai đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đúng tiến độ, ngoài cơ chế đặc thù tạo điều kiện tăng tốc dự án, còn cần khoa học công nghệ, tiêu chuẩn, dữ liệu và nhân lực quyết định khả năng làm chủ công trình trong dài hạn.

Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đang được chuẩn bị trên một quy mô đặc biệt lớn với tổng mức đầu tư trên 1,7 triệu tỷ đồng

Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đang được chuẩn bị trên một quy mô đặc biệt lớn. Tuyến đường dài khoảng 1.541 km, tốc độ thiết kế 350 km/h, tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,7 triệu tỷ đồng và dự kiến cơ bản hoàn thành vào năm 2035.

Với quy mô này, nếu chỉ coi dự án là một công trình giao thông, cơ hội tạo dựng năng lực mới cho nền kinh tế sẽ bị thu hẹp. Ngược lại, nếu coi đây là "bài toán tổng hợp" về công nghiệp, khoa học công nghệ và nhân lực, dự án có thể trở thành động lực hình thành một hệ sinh thái đường sắt hiện đại của Việt Nam.

Đầu tháng 4/2026, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam được định hình rõ nét hơn khi Chính phủ chính thức ban hành Nghị quyết số 98, triển khai Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội. Theo các cơ chế được áp dụng, dự án được phân tách thành 17 dự án độc lập; đồng thời áp dụng 19 chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ, huy động nguồn lực, phân cấp đầu tư, đào tạo nhân lực và phát triển công nghiệp.

Ông Phùng Tuấn Sơn, Phó giám đốc Ban QLDA Thăng Long nhìn nhận, Nghị quyết 98 có ý nghĩa quan trọng khi phân tách rõ các dự án độc lập, xác định cụ thể hạng mục công việc, cơ quan thực hiện và mốc tiến độ, qua đó dự kiến rút ngắn khoảng 20-30% thời gian triển khai so với quy trình thông thường.

Tiêu chuẩn là "ngôn ngữ chung" của công nghệ

Một trong những công việc ít được nhìn thấy nhưng có ý nghĩa quyết định đối với dự án đường sắt tốc độ cao là xây dựng hệ thống tiêu chuẩn.

Theo thông tin từ Ban Quản lý dự án Thăng Long, danh mục tiêu chuẩn áp dụng cho dự án đã nghiên cứu 605 tiêu chuẩn; trong đó 225 tiêu chuẩn đã được xây dựng hoặc chuyển đổi thành TCVN, 12 tiêu chuẩn đang chuyển đổi, 187 tiêu chuẩn đã được biên dịch sang tiếng Việt và tiếp tục chuyển đổi; còn 181 tiêu chuẩn chưa được dịch.

Con số này cho thấy mức độ phức tạp của việc chuẩn bị nền tảng kỹ thuật cho một hệ thống đường sắt tốc độ cao.

Tiêu chuẩn không chỉ là yêu cầu kỹ thuật trên giấy. Đó là cơ sở để thiết kế, sản xuất, kiểm định, nghiệm thu, vận hành và bảo trì; đồng thời là "ngôn ngữ chung" giữa chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu, nhà sản xuất và cơ quan quản lý. Một hệ thống tiêu chuẩn phù hợp còn có ý nghĩa chiến lược trong việc tránh phụ thuộc vào một nguồn công nghệ duy nhất. Khi các yêu cầu kỹ thuật của hạ tầng được xác lập rõ ràng, Việt Nam có thể lựa chọn giải pháp trên cơ sở hiệu quả, an toàn và khả năng làm chủ thay vì bị động đi theo một gói công nghệ khép kín.

Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của quá trình nội địa hóa

Khoa học công nghệ sẽ khó tạo ra năng lực công nghiệp nếu thiếu doanh nghiệp đứng ở cuối chuỗi. Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng với đường sắt tốc độ cao.

Ngày 30/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược. Tiếp đó, ngày 6/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 808/QĐ-TTg giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Theo ông Lê Văn Dương, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể cho Bộ Xây dựng về phát triển các công nghệ chiến lược đường sắt.

Trọng tâm là từng bước làm chủ công nghệ xây dựng hạ tầng đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa tại Việt Nam, từ khảo sát, thiết kế, thi công đến sản xuất cấu kiện, phù hợp với điều kiện địa chất, khí hậu và năng lực công nghiệp trong nước. Cùng đó, hình thành năng lực tự xây dựng, bảo trì, sửa chữa công trình đường sắt. Nhiệm vụ này gắn với yêu cầu huy động nguồn lực, từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao, làm chủ và nội địa hóa công nghệ trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt điện khí hóa.

Theo ông Dương, đây đều là những vấn đề mới, phức tạp, chuyên sâu, yêu cầu kỹ thuật cao và lần đầu được nghiên cứu, triển khai. Bởi vậy, bài toán không dừng ở việc nhận chuyển giao một công nghệ có sẵn. Mục tiêu lớn hơn là tạo ra năng lực để tiếp nhận, vận hành, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ ngay trong nước.

Doanh nghiệp được xác định là trung tâm nội địa hóa công nghệ. Mô hình "3 nhà" được đặt vào vị trí quan trọng: Nhà nước đóng vai trò điều phối, kiến tạo, đặt hàng; viện - trường thực hiện nghiên cứu, đào tạo, xác thực công nghệ; doanh nghiệp triển khai, sản xuất và công nghiệp hóa.

Đáng nói, trước nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, Bộ Xây dựng đã huy động nhiều đơn vị nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp, hội khoa học kỹ thuật, chuyên gia trong và ngoài ngành. Các đơn vị quốc phòng như Viettel, Viện Công nghệ (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng); các doanh nghiệp tư nhân như Hòa Phát, THACO… đều sẵn sàng tham gia.

Nhu cầu nhân lực cho toàn dự án đường sắt tốc độ cao đến năm 2035 dự kiến khoảng 254.400 người; riêng giai đoạn 2025-2030 cần khoảng 73.600 người

Đường sắt tốc độ cao cần nhân lực chất lượng cao

Một hệ thống đường sắt tốc độ cao hiện đại đòi hỏi đội ngũ nhân lực hoàn toàn khác với đường sắt truyền thống.

Theo thông tin được Bộ Xây dựng công bố, nhu cầu nhân lực cho toàn dự án đến năm 2035 dự kiến khoảng 254.400 người; riêng giai đoạn 2025-2030 cần khoảng 73.600 người. Việt Nam dự kiến phải đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực trong giai đoạn 2025-2030 và tối thiểu 70.000 người trong giai đoạn 2031-2035, hướng tới đội ngũ chuyên sâu về công nghệ, vận hành, bảo trì và công nghiệp đường sắt.

Đây không phải bài toán có thể giải quyết bằng những khóa đào tạo ngắn hạn. Nhân lực đường sắt tốc độ cao phải được hình thành theo chuỗi: kỹ sư khảo sát, thiết kế; chuyên gia kết cấu, địa kỹ thuật; kỹ sư điện, điện tử, tự động hóa; chuyên gia thông tin - tín hiệu; chuyên gia đầu máy, toa xe; chuyên gia vận hành, bảo trì; chuyên gia dữ liệu và chuyển đổi số.

Nhiều cơ sở đào tạo và doanh nghiệp đã chủ động "đi trước một bước", thay vì chỉ chờ đợi cơ chế, chính sách. Tại Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM, hơn 400 sinh viên đã được tuyển sinh và đào tạo các chuyên ngành liên quan đến đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị; đang triển khai chương trình văn bằng hai với 40 sinh viên theo đặt hàng trực tiếp từ doanh nghiệp.

Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải đã đào tạo 76 sinh viên chuyên ngành đường sắt tốc độ cao, góp phần bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực này.

Tập đoàn Đường sắt quốc gia Việt Nam (VNR) cũng chủ động tham gia sâu vào công tác đào tạo, hợp tác với Học viện Đường sắt Liễu Châu và Học viện Đường sắt Côn Minh (Trung Quốc) tổ chức thành công 6 khóa đào tạo với khoảng 180 học viên, phục vụ trực tiếp cho các dự án đường sắt mới và đường sắt tốc độ cao.

VNR cũng đang mở rộng hợp tác với các trường đại học uy tín tại Trung Quốc và Hàn Quốc để đào tạo kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành đường sắt; phối hợp với Tổng công ty Đường sắt Hàn Quốc (Korail) xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển nhân lực. Dự kiến, khoảng 650 nhân lực sẽ được đào tạo phục vụ các gói thầu EPC.

Điều quan trọng nhất của dự án đường sắt tốc độ cao không chỉ nằm ở thời điểm đoàn tàu đầu tiên chạy trên tuyến Bắc - Nam. Giá trị lớn hơn là sau khi dự án hoàn thành, Việt Nam có thêm một lực lượng kỹ sư và chuyên gia đủ năng lực; có doanh nghiệp sản xuất được vật liệu, cấu kiện, thiết bị; có hệ thống tiêu chuẩn và phòng thí nghiệm; có năng lực thiết kế, thi công, vận hành và bảo trì; có nền tảng dữ liệu và công nghệ số phục vụ các tuyến đường sắt tiếp theo.


Bạn đang đọc bài viết "Đường sắt tốc độ cao: Từ làm chủ công nghệ đến xây dựng năng lực công nghiệp đường sắt" tại chuyên mục Đầu tư. Mọi bài vở cộng tác xin gửi về địa chỉ email ([email protected]).