Từ đồng sáng lập thành người khởi kiện công ty
Ông Nguyễn Hữu P. là một trong bốn thành viên góp vốn sáng lập Công ty TNHH C tại TPHCM, mỗi người sở hữu 25% vốn điều lệ. Ngoài vai trò thành viên góp vốn, ông P. còn làm việc tại công ty theo hợp đồng lao động với chức danh giám đốc kỹ thuật.
Theo ông P., tháng 7/2014, ông ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ty, hưởng mức lương 28 triệu đồng/tháng. Đến đầu năm 2018, thu nhập được nâng lên 40 triệu đồng/tháng dù không có quyết định tăng lương bằng văn bản.
Mâu thuẫn phát sinh vào cuối năm 2018. Theo ông P., tại cuộc họp ngày 19/11/2018 với ban lãnh đạo công ty, ông được đưa ra hai lựa chọn: tự nguyện nghỉ việc hoặc tiếp tục làm việc nhưng không còn giữ chức danh giám đốc kỹ thuật, bị giảm lương từ 40 triệu đồng xuống còn 30 triệu đồng/tháng và chỉ được giữ lại 10% vốn góp.
Sau cuộc họp, các tài khoản làm việc của ông P. tại công ty bị khóa. Ngày 28/11/2018, ông nhận được email từ người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với nội dung nêu rằng kể từ ngày đó ông sẽ không còn là thành viên góp vốn cũng như chính thức nghỉ việc tại công ty. Email cũng đề cập việc công ty sẽ bồi thường cho ông số tiền tương đương 2 tháng lương sau khi hoàn tất việc bàn giao.
Cho rằng bị công ty cho nghỉ việc trái pháp luật, người đồng sáng lập khởi kiện đòi bồi thường hơn 2,2 tỷ đồng nhưng cuối cùng chỉ được tòa chấp nhận hơn 2,6 triệu đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Cho rằng đây là thông báo chấm dứt hợp đồng lao động, ông P. không đồng ý. Sau đó, ông khởi kiện công ty, yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Người lao động yêu cầu doanh nghiệp bồi thường hơn 2,2 tỷ đồng, bao gồm tiền lương trong thời gian không được làm việc từ cuối năm 2018 đến thời điểm xét xử, tiền lương những ngày chưa được thanh toán, 2 tháng lương bồi thường, tiền bảo hiểm xã hội và khoản tiền do không báo trước khi chấm dứt hợp đồng.
Ngoài ra, ông còn yêu cầu công ty hoàn tất thủ tục xác nhận và trả sổ bảo hiểm xã hội.
Trong khi đó, phía doanh nghiệp cho rằng, email ngày 28/11/2018 chỉ là nội dung trao đổi giữa các thành viên sáng lập liên quan đến việc chuyển nhượng phần vốn góp và chấm dứt tư cách thành viên công ty. Theo công ty, đây không phải quyết định cho nghỉ việc.
Doanh nghiệp khẳng định chưa từng ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông P. và cho rằng chính ông P. đã tự nghỉ việc từ cuối tháng 11/2018.
Tòa bác yêu cầu bồi thường hơn 2,2 tỷ đồng
Quá trình xem xét vụ án, Tòa án nhân dân TP Thủ Đức xác định giữa ông P. và công ty tồn tại quan hệ lao động. Dù là thành viên sáng lập, ông P. vẫn ký hợp đồng lao động và được doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội trong nhiều năm.
Tuy nhiên, đối với yêu cầu bồi thường hơn 2,2 tỷ đồng, tòa không chấp nhận.
Theo Hội đồng xét xử, email ngày 28/11/2018 có tiêu đề là “phương án chuyển giao”, đồng thời cuối thư còn đề nghị ông P. xem xét và phản hồi. Sau email này, các bên tiếp tục trao đổi qua lại về việc góp vốn và việc chấm dứt hợp đồng lao động nhưng chưa đạt được sự thống nhất cuối cùng.
Đáng chú ý, ngày 29/11/2018, ông P. gửi email phản đối nội dung trên. Sau đó, ông không quay lại công ty làm việc.
Từ các chứng cứ trong hồ sơ, tòa nhận định email ngày 28/11/2018 chỉ mang tính chất trao đổi, chưa phải quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, không có căn cứ xác định công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông P.
Một nội dung khác được tranh luận gay gắt là mức lương làm căn cứ tính bồi thường.
Ông P. cho rằng từ đầu năm 2018, ông được hưởng mức lương 40 triệu đồng/tháng và cung cấp các giao dịch chuyển khoản để chứng minh. Tuy nhiên, tòa cho rằng các khoản tiền này được chuyển từ tài khoản cá nhân của một thành viên công ty chứ không phải từ tài khoản doanh nghiệp. Số tiền chuyển mỗi tháng cũng không cố định, nội dung giao dịch không thể hiện đây là tiền lương theo hợp đồng lao động.
Trong khi đó, hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của ông P. là 4,5 triệu đồng/tháng. Đây là căn cứ rõ ràng nhất để xác định tiền lương trong vụ án.
Từ đó, tòa xác định ông P. còn 13 ngày làm việc chưa được thanh toán trong tháng 11/2018. Số tiền lương tương ứng được tính theo mức 4,5 triệu đồng/tháng, tổng cộng hơn 2,6 triệu đồng.
Ngoài ra, yêu cầu buộc công ty hoàn tất thủ tục xác nhận và trả sổ bảo hiểm xã hội cũng không được chấp nhận. Hồ sơ thể hiện công ty vẫn thực hiện việc đóng BHXH cho ông P. đến tháng 11/2021. Trong khi đó, từ tháng 8/2020 ông đã làm việc tại một doanh nghiệp khác và cũng phát sinh quá trình tham gia BHXH tại đơn vị này. Bản thân ông P. cũng không chứng minh được việc đã giao sổ bảo hiểm xã hội cho công ty quản lý.
Không đồng ý với phán quyết sơ thẩm, cả ông P. và công ty đều kháng cáo. Ông P. tiếp tục yêu cầu được bồi thường toàn bộ số tiền hơn 2,2 tỷ đồng, còn công ty đề nghị hủy luôn phần phải trả hơn 2,6 triệu đồng tiền lương.
Tại phiên phúc thẩm, Tòa án nhân dân TPHCM giữ nguyên các nhận định của cấp sơ thẩm. Hội đồng xét xử kết luận không có căn cứ xác định công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và cũng không có căn cứ để tính lương theo mức 40 triệu đồng/tháng như yêu cầu của ông P.
Kết quả, tòa bác gần như toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P., chỉ chấp nhận khoản tiền lương hơn 2,6 triệu đồng tương ứng với 13 ngày làm việc chưa được thanh toán.