
Đại biểu Quốc hội Bùi Hoài Sơn - Ảnh: GIA HÂN
Tuy nhiên khi không gian truyền thông đang thay đổi từng ngày dưới tác động của công nghệ số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo, phương thức tuyên truyền nếu không được đổi mới mạnh mẽ sẽ khó theo kịp sự vận động của đời sống.
Đổi mới công tác tuyên giáo vì thế không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật truyền thông, mà trước hết là sự đổi mới tư duy, cách tiếp cận và phương thức đối thoại với xã hội.
Báo chí phải thực sự trở thành lực lượng chủ lực trong làm chủ không gian mạng
Ngày nay người dân không còn tiếp nhận thông tin một chiều, và cũng không chờ đợi thông tin từ nguồn duy nhất.
Mỗi người vừa là người tiếp nhận, vừa có thể trở thành người sản xuất, lan truyền thông tin. Một sự việc diễn ra trong đời sống có thể được ghi lại, bình luận, phát tán trên mạng xã hội chỉ trong vài phút.
Trong môi trường ấy, thông tin chính thống nếu chậm hơn, khô cứng hơn hoặc thiếu sức thuyết phục sẽ dễ bị lấn át bởi tin đồn, suy diễn và những thông tin sai lệch được trình bày hấp dẫn hơn.
Bởi vậy báo chí chính thống phải thực sự trở thành lực lượng chủ lực trong việc làm chủ không gian mạng, không chỉ bằng vị thế pháp lý hay tính chính danh, mà bằng chất lượng thông tin, tốc độ phản ứng, chiều sâu phân tích, khả năng tạo dựng niềm tin.
Làm chủ không gian mạng không có nghĩa phủ kín mạng xã hội bằng thật nhiều nội dung, mà tạo ra những sản phẩm báo chí có giá trị, có khả năng dẫn dắt nhận thức, giải thích đúng bản chất vấn đề và cung cấp cho công chúng những căn cứ đáng tin cậy để phân biệt đúng - sai.
Muốn vậy báo chí cần chuyển mạnh từ tư duy “đưa tin những gì đã diễn ra” sang tư duy “giải thích những gì xã hội đang quan tâm”.
Hạn chế đưa tin mang tính "lễ tân", "đồng phục"
Người dân không chỉ cần biết một hội nghị được tổ chức, có bao nhiêu đại biểu tham dự, ai phát biểu khai mạc, mà quan trọng hơn họ muốn biết hội nghị giải quyết vấn đề gì, tác động thế nào đến đời sống và những cam kết được đưa ra sẽ được thực hiện ra sao.
Nếu báo chí chỉ dừng ở việc mô tả nghi thức, liệt kê thành phần, thuật lại tuần tự các phát biểu, thì thông tin dù chính xác vẫn khó tạo ra ảnh hưởng xã hội.
Việc hạn chế đưa tin mang tính “lễ tân”, “đồng phục” vì thế cần được xem là một trong những khâu đột phá của đổi mới công tác tuyên truyền.
“Lễ tân” là khi nghi thức lấn át nội dung, còn “đồng phục” là khi nhiều cơ quan báo chí cùng đưa một sự kiện theo một khuôn mẫu giống nhau, từ tiêu đề, hình ảnh đến cách diễn đạt. Hệ quả là thông tin trở nên đơn điệu, thiếu phát hiện, không thể hiện được bản sắc của từng cơ quan báo chí và không đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng.
Mỗi sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa hay xã hội đều có nhiều lớp ý nghĩa. Báo chí cần lựa chọn góc tiếp cận gần với đời sống, đặt câu hỏi từ nhu cầu của người dân và tìm kiếm những câu trả lời cụ thể.
Một chính sách mới cần được giải thích bằng những thay đổi mà người dân, doanh nghiệp và cộng đồng sẽ trực tiếp cảm nhận. Một nghị quyết quan trọng cần được chuyển hóa thành những câu chuyện sinh động về thực thi, con người, kết quả.
Khi chính sách được kể bằng ngôn ngữ của đời sống, công tác tuyên truyền mới có khả năng đi vào lòng người.
Đổi mới công tác tuyên giáo cũng đòi hỏi phải đa dạng hóa phương thức truyền thông gắn với từng nhóm đối tượng cụ thể. Không thể sử dụng cùng một nội dung, cách diễn đạt cho cán bộ, công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân và thanh niên.
Người trẻ cần những sản phẩm ngắn gọn, trực quan, giàu tương tác, nhưng không có nghĩa là đơn giản hóa hoặc làm nghèo nội dung. Người lao động cần thông tin thiết thực, gắn với quyền lợi, việc làm, đời sống.
Đội ngũ trí thức cần những phân tích có cơ sở khoa học, có chiều sâu lý luận và khả năng đối thoại. Đồng bào vùng sâu, vùng xa cần những hình thức truyền thông phù hợp với điều kiện tiếp cận công nghệ, ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa địa phương.
Sự phân hóa công chúng đòi hỏi người làm công tác tuyên giáo, trong đó có báo chí phải hiểu công chúng sâu sắc hơn.
Truyền thông hiệu quả không bắt đầu từ câu hỏi “chúng ta muốn nói điều gì?”, mà cần đồng thời trả lời câu hỏi “người dân đang quan tâm điều gì, đang băn khoăn điều gì và cần được giải đáp bằng cách nào?”.
Đây là sự chuyển đổi quan trọng từ tư duy tuyên truyền áp đặt sang tuyên truyền thuyết phục, từ truyền đạt một chiều sang tương tác và đối thoại.
Cùng với đó cần khai thác tốt hơn các hình thức truyền thông mới như báo chí dữ liệu, đồ họa, video ngắn, podcast, phim tài liệu, tọa đàm trực tuyến, các sản phẩm tương tác. Công nghệ phải trở thành công cụ giúp thông tin chính thống đến nhanh hơn, gần hơn, sinh động hơn với công chúng.
Đổi mới phải luôn đi đôi với bảo đảm tính chính xác, nhân văn, trách nhiệm xã hội
Tuy nhiên đổi mới hình thức phải luôn đi đôi với bảo đảm tính chính xác, chuẩn mực, nhân văn và trách nhiệm xã hội. Không thể chạy theo lượt xem bằng những tiêu đề giật gân, những cách thể hiện dễ dãi hay sự kích thích cảm xúc tiêu cực.
Cuối cùng muốn báo chí chính thống làm chủ không gian mạng, điều cốt lõi vẫn là củng cố niềm tin của công chúng. Niềm tin ấy được hình thành từ sự trung thực, kịp thời, minh bạch và tinh thần phụng sự Nhân dân.
Khi báo chí dám đi vào những vấn đề khó, phản ánh đúng các bất cập, chỉ ra giải pháp, lan tỏa những giá trị tích cực thì báo chí sẽ không chỉ là phương tiện truyền tải chủ trương, chính sách, mà còn trở thành cầu nối bền vững giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Đổi mới công tác tuyên giáo trong kỷ nguyên số phải hướng tới một nền truyền thông chính thống chủ động hơn, sáng tạo hơn, gần dân hơn và có sức thuyết phục cao hơn.
Khi mỗi thông tin đều xuất phát từ thực tiễn, hướng đến nhu cầu của con người, được thể hiện bằng phương thức phù hợp, công tác tuyên giáo mới thực sự tạo ra đồng thuận, khơi dậy khát vọng phát triển, góp phần xây dựng xã hội vững vàng niềm tin, giàu có tinh thần.