
Ảnh minh họa
Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ, dự án Thủy điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia với công suất lắp đặt 2400 MW (gồm 6 tổ máy, mỗi tổ máy 400MW), có công trình chính đặt tại tuyến Pa Vinh thuộc địa phận tỉnh Sơn La.
Khởi công năm 2005, với tổng mức đầu tư điều chỉnh là 60.195,928 tỷ đồng (khoảng 2,3 tỷ USD). Đến ngày 23/12/2012, Thuỷ điện Sơn La - thuỷ điện lớn nhất ASEAN, một trong 10 đập bê tông đầm lăn lớn nhất thế giới khánh thành sau 7 năm xây dựng. Đại công trình này cán về đích sớm tới 3 năm so với nghị quyết của Quốc hội.
Trong quá trình thi công, công trình đã vượt qua nhiều thách thức để về đích sớm. Trong đó, 10 vết nứt trên đập đã được phát hiện vào năm 2008. Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, 10 vết nứt xảy ra tại 4 khối đổ là C2, L1.1, C3 và C5. Vết nứt đầu tiên phát hiện tại khối C2, ngày 11/8/2008, vết nứt cách bề mặt thượng lưu 50m, bề rộng khoảng 0,5 mm, hướng song song với tim đập dài 30,5m.
Vết nứt dài nhất phát hiện tại khối L1.1 ngày 18/11/2008. Trên bề mặt khối L1.1 cao trình 136,2m phát hiện 2 vết nứt theo hướng song song với tim đập. Vết thứ nhất cách mép đập thượng lưu khoảng 50m (ở vị trí gần trung tâm khối L1) kéo dài 94,5m. Vết thứ hai cách vết thứ nhất khoảng 18m về phía hạ lưu, kéo dài 97,3m. Bề rộng cả hai vết nứt lớn nhất khoảng 0,5 mm. Vết nứt ngắn nhất là khoảng 8m, độ sâu các vết nứt trung bình khoảng 4-6,5m. Vết nứt phát hiện gần đây nhất là vào ngày 17.12.2008, tại khối C5 (cao trình 146,7m), dài 30,6m rộng khoảng 0,5 mm.
Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ, việc xuất hiện các vết nứt bê tông không quá nguy hiểm, phức tạp cũng như công tác xử lý khắc phục hoàn toàn chỉ là vấn đề kỹ thuật. Quản lý an toàn tại Thủy điện Sơn La là tuyệt đối, không chấp nhận sai lệch. Tuy nhiên, không phải một khiếm khuyết nào xảy ra cũng ảnh hưởng tới an toàn. Theo đó, các vết nứt này không ảnh hưởng an toàn đập nên chưa đặt ra việc ngừng thi công đập.
Đáng chú ý, để công trình về đích sớm, Việt Nam đã ứng dụng công nghệ mới. Đập bê tông RCC (bê tông đầm lăn) của Thủy điện Sơn La to nhất và hiện đại nhất với hơn 2,7 triệu m 3 .
Tại Nhà máy Thủy điện Sơn La, việc áp dụng công nghệ bê tông đầm lăn (RCC) đã đưa năng suất đổ bê tông đập đạt 9-12m/tháng, thay vì chỉ đạt 3-4m/tháng như bê tông thường. Lượng xi măng cũng giảm từ 250-300kg/m3 bê tông xuống còn 60kg xi măng cộng với 160kg tro bay, vừa tiết kiệm kinh phí, vừa giảm tối đa sự tăng nhiệt, giảm nứt bề mặt bê tông, đồng thời làm tăng độ chống thấm bề mặt đập phía thượng lưu, tiết kiệm giá thành và thời gian thi công.
Đặc biệt, do yêu cầu khắt khe về kỹ thuật và thời gian, những ngày nắng nóng, thợ phải trộn thêm nước đá để đảm bảo nhiệt độ bê tông luôn ở 22 độ C nhằm giữ bê tông không bị nứt.
Việc đổ bê tông phải liên tục nên dù trời mưa hay nắng, kể cả khi gió bão cũng phải căng bạt lên, chia ca kíp để làm việc 24/24h. Chỉ riêng việc sử dụng công nghệ RCC, các công trình thủy điện Sơn La đã rút ngắn thời gian thi công đập khoảng 1 năm.
Cùng với sử dụng công nghệ RCC, đập tràn thủy điện Sơn La còn được ứng dụng mặt cắt dạng WES của Mỹ để tăng khả năng xả, tiết kiệm bê tông. Điều đáng nói nhất là các hạng mục thiết bị cơ khí thủy công như cửa van, kết cấu thép trong bêtông, đường ống áp lực, thiết bị cẩu, nâng hạ... trước đây phải nhập toàn bộ của nước ngoài thì hiện giờ, nhiều Công ty điện lực tự thiết kế và chế tạo các cửa van đập tràn, đường ống áp lực với kích thước lớn, chịu áp lực cao tại hầu hết các dự án thủy điện.
Nếu như Thủy điện Hòa Bình (công suất 1.920MW) phải mất 15 năm xây dựng với sự giúp đỡ của hàng trăm chuyên gia Liên Xô (cũ) thì TĐ Sơn La (2.400 MW) thực hiện trong 7 năm do người Việt Nam đảm nhiệm toàn bộ từ khâu thiết kế đến tất cả các khâu thi công, đào đắp, lắp máy.
Trước đó, việc vận chuyển, lắp đặt những thiết bị siêu trường siêu trọng như ở Thủy điện Sơn La là rất khó khăn nhưng vào thời điểm xâu dựng Việt Nam đã chế tạo được cần cẩu có khả năng cẩu lên đến 1.200 tấn để lắp đặt thành công rotor các tổ máy.
Ngoài việc làm chủ công nghệ thi công đập RCC, các đơn vị thi công còn khoan đào đường hầm với chiều dài và đường kính lớn, lắp đặt và hiệu chỉnh tua bin, máy phát, tổ hợp, hàn nối ghép và lắp đặt đường ống áp lực đường kính lớn, chịu áp cao với các máy móc, thiết bị tiên tiến, yêu cầu kỹ thuật khắt khe trong điều kiện thi công rất khó khăn…
Công trình thủy điện Sơn La thể hiện người Việt Nam đã có thể làm chủ hoàn toàn công nghệ trong lĩnh vực thủy điện.