Từ ngày 1-3-2026, Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ chính thức có hiệu lực, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia tiên phong trên thế giới có bộ luật hoàn chỉnh AI.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Theo báo cáo Vietnam AI Economy 2025 do Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Boston Consulting Group (BCG) công bố mới đây, Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về chuyển đổi số, với tốc độ tăng trưởng ấn tượng, hằng năm đạt 20%, tiếp tục khẳng định vị thế là nền kinh tế số phát triển nhanh và năng động nhất khu vực. BCG ước tính đến năm 2040, AI sẽ trở thành yếu tố cốt lõi trong quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đóng góp từ 120 đến 130 tỉ USD.
Trong bối cảnh AI được xác định là động lực tăng trưởng mới, việc ban hành Luật AI là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm đổi mới sáng tạo đi đôi với kiểm soát rủi ro. Luật quy định nhiều nội dung đáng chú ý như: Buộc gắn nhãn, cảnh báo đối với nội dung do AI tạo ra, xác định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, phân loại hệ thống AI theo mức rủi ro, xử lý trách nhiệm và bồi thường thiệt hại, nhằm bảo đảm quyền con người, quyền riêng tư, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và an ninh quốc gia. Cụ thể, điều 7 nghiêm cấm lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống AI để vi phạm pháp luật; sử dụng công nghệ giả mạo, mô phỏng người hoặc sự kiện thật nhằm lừa dối, thao túng; thu thập, xử lý dữ liệu trái quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng để phát triển, vận hành AI. Điều 11 quy định nội dung âm thanh, hình ảnh, video do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa để mô phỏng người thật, sự kiện thật phải được gắn nhãn rõ ràng; hay theo điều 9, hệ thống AI được phân loại thành 3 mức rủi ro: thấp, trung bình và cao để áp dụng nghĩa vụ quản lý tương ứng…

Nhà bán hàng Việt tìm hiểu cách ứng dụng AI trong kinh doanh. Ảnh: HOÀNG TRIỀU
Liên quan đến Luật AI chính thức có hiệu lực từ ngày 1-3, Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành dự thảo Thông tư quy định chi tiết yêu cầu về an toàn, quản lý rủi ro và điều kiện triển khai đối với việc ứng dụng AI trong ngành ngân hàng. Thời gian qua, AI đã được ứng dụng rộng rãi trong ngành ngân hàng như chấm điểm tín dụng, thẩm định cho vay, phát hiện gian lận, chatbot tư vấn, eKYC… Tuy nhiên, việc triển khai cũng tiềm ẩn rủi ro về an toàn hệ thống, sai lệch dữ liệu và xâm phạm quyền riêng tư khách hàng. Vì vậy, thông tư được kỳ vọng sẽ thiết lập khung yêu cầu tối thiểu về an toàn và quản lý rủi ro, bảo đảm triển khai AI thống nhất, an toàn và hiệu quả.
Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực
TS Sreenivas Tirumala, giảng viên cấp cao ngành Công nghệ thông tin và An ninh mạng Đại học RMIT Việt Nam, nhận định Luật AI ra đời sẽ thúc đẩy niềm tin của nhà đầu tư vào cách xử lý dữ liệu và trách nhiệm pháp lý liên quan đến việc sử dụng AI tại Việt Nam, đặc biệt trong tình hình đầu tư nước ngoài ngày càng tăng. Luật cũng đưa Việt Nam đi trước các nước ASEAN khác về mặt lập pháp.
Không chỉ là một cột mốc pháp lý, Luật AI còn thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc vươn lên trở thành quốc gia dẫn đầu về AI. Thông qua hệ thống quy định và cơ chế khuyến khích đổi mới, Việt Nam đang đặt nền móng cho một hệ sinh thái AI cạnh tranh, hướng tới phát triển bền vững. Các chuyên gia cho rằng về dài hạn, luật có thể tạo bước đột phá chiến lược, giúp Việt Nam chuyển từ vị thế tiêu thụ công nghệ sang kiến tạo giá trị. Luật góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và tài chính; bảo vệ quyền lợi công dân trước các rủi ro đạo đức do AI gây ra...
Tuy nhiên, TS Tirumala cũng lưu ý thách thức tuân thủ khi luật có hiệu lực. Nhiều hệ thống thuộc các lĩnh vực y tế, giáo dục và tài chính được đưa vào hoạt động trước thời điểm này, trong khi khoảng thời gian chuẩn bị không đủ dài đối với doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa, đồng thời cũng là thách thức đối với DN sử dụng hệ thống AI có rủi ro cao. Ông cho rằng cần xem xét nâng cao nhận thức về AI trong giới DN và cung cấp một quy trình tuân thủ đơn giản. Phát triển nguồn nhân lực cũng là một ưu tiên lớn. Luật yêu cầu tích hợp kiến thức cơ bản về AI vào chương trình giáo dục phổ thông và khuyến khích các trường đại học mở rộng các chương trình liên quan đến AI, nhằm xây dựng lực lượng lao động có khả năng cạnh tranh cao. "Các trường đại học cần tích hợp các nguyên tắc cơ bản về AI và đạo đức AI vào chương trình giảng dạy của tất cả các ngành, không chỉ riêng các ngành công nghệ. Điều quan trọng là phải hướng dẫn sinh viên cách ứng dụng AI một cách có trách nhiệm dựa trên các chuẩn mực xã hội và văn hóa lẫn các quy định và luật pháp hiện hành. Các trường cần xây dựng quan hệ đối tác với các tổ chức, DN để thực hiện các dự án học tập thực tiễn và các chương trình thực tập. Đây sẽ là chìa khóa để tạo ra lực lượng lao động sẵn sàng ứng dụng AI. Cách tiếp cận này bảo đảm sinh viên tốt nghiệp có thể đáp ứng các yêu cầu tuân thủ đồng thời thúc đẩy đổi mới" - TS Tirumala góp ý.
Sự phát triển của AI không chỉ là câu chuyện trong nước mà gắn chặt với xu hướng cạnh tranh và hợp tác ở quy mô khu vực. AI cũng tái định hình lĩnh vực an ninh mạng. Các hệ thống ứng dụng AI có khả năng tự động quét hạ tầng, phát hiện lỗ hổng và phân tích ngữ cảnh, giúp giảm đáng kể khối lượng công việc thủ công. Ông Vladislav Tushkanov, quản lý Nhóm Phát triển nghiên cứu tại Kaspersky, nhận định khi AI được quản lý và sử dụng một cách an toàn sẽ có ý nghĩa quyết định đối với tương lai an ninh mạng trong kỷ nguyên số.
Tạo 2 động lực tăng trưởng
Theo báo cáo Vietnam AI Economy 2025, AI sẽ tạo ra 2 động lực tăng trưởng chính, gồm tăng trưởng doanh thu từ tiêu dùng, tạo ra từ 45 tỉ đến 55 tỉ USD thông qua nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm và dịch vụ có ứng dụng AI; và tiết kiệm 60-75 tỉ USD chi phí do tăng năng suất thông qua tự động hóa, phân tích dự báo và cải thiện hiệu suất nhờ sử dụng công nghệ AI.
Những con số này nhấn mạnh tiềm năng chuyển đổi mạnh mẽ của AI và các cơ hội hấp dẫn mà công nghệ này mở ra cho các DN, nhà khởi nghiệp và các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam.