Chuyên gia ngoại ngỡ ngàng, Việt Nam huy động 8.300 người, cả thợ lặn sâu, sử dụng công nghệ xịn chưa từng có hoàn thành công trình thế kỷ tại Hà Nội

Admin

05/11/2026 16:31

Vì sao công trình thế kỷ của Việt Nam hoàn thành trong ngỡ ngãng?

Huy động 8.300 người, thậm chí cả thợ lặn sâu, sử dụng công nghệ chưa từng có, công trình thế kỷ của Việt Nam hoàn thành trong ngỡ ngãng - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Cầu Thăng Long bắc qua sông Hồng, nối Đông Anh với trung tâm Hà Nội, không chỉ tạo thuận lợi cho giao thông giữa hai bờ sông mà còn là tiền đề thúc đẩy Đông Anh phát triển. Năm 1972, Đảng và Nhà nước quyết định xây dựng cầu Thăng Long, cây cầu thứ hai bắc qua sông Hồng tại Hà Nội, sau cầu Long Biên.

Ngày 26/11/1974, cầu Thăng Long chính thức được khởi công. Ban đầu, các chuyên gia Trung Quốc đến khảo sát và hỗ trợ Việt Nam xây dựng những trụ cầu đầu tiên. Tuy nhiên, đến năm 1978, khi mới hoàn thành 9/14 trụ cầu, các chuyên gia Trung Quốc rút về nước.

Trước tình hình đó, năm 1978, Liên Xô đã viện trợ không hoàn lại để tiếp tục xây dựng cầu Thăng Long. Từ đây, các đoàn chuyên gia Liên Xô có mặt tại công trường, tiếp tục triển khai dự án và điều chỉnh một số thiết kế theo hướng hiện đại hơn. Đáng chú ý, công nghệ đinh tán từng được sử dụng tại cầu Long Biên được thay thế bằng bu lông cường độ cao, góp phần nâng cao độ bền vững của công trình.

Việc thi công cầu Thăng Long do Xí nghiệp Liên hợp cầu Thăng Long đảm nhiệm, gồm bốn xí nghiệp cầu và một xí nghiệp cơ giới. Đây là mô hình xí nghiệp liên hợp theo đúng nghĩa, còn khá mới mẻ đối với ngành xây dựng cầu thời bấy giờ. Lực lượng kỹ sư, công nhân ban đầu có khoảng 1.600 người, sau tăng lên 8.300 người. Liên Xô cũng hỗ trợ Việt Nam đào tạo nhiều lực lượng lao động chuyên môn như thợ lặn sâu 50 m, công nhân phun sơn, hàn tự động và kiểm tra hàn.

Đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân Việt Nam lúc đó chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế thi công cầu theo kỹ thuật mới. Để hỗ trợ Việt Nam, Liên Xô đã cử sang công trường gần 160 lượt chuyên gia, cung cấp hàng chục nghìn tấn thép, dầm thép, xi-măng mác cao cùng hàng trăm tấn thiết bị, máy móc khác.

Đây cũng là lần đầu tiên các kỹ sư và công nhân Việt Nam được tiếp xúc với nhiều vấn đề về tổ chức thi công và phương pháp kỹ thuật mới. Đơn cử như việc đắp đảo bằng bao tải, thay thế khung vây cọc ván thép để xây dựng móng giếng chìm cỡ lớn rộng 18 m và bịt đáy trụ cầu ở độ sâu 40 m trong nền địa chất sét cát, sỏi cuội; trực tiếp thi công công trình có quy mô lớn.

Đặc biệt, việc thi công móng trụ cầu bằng công nghệ định vị giếng chìm chở nổi vẫn còn rất mới mẻ đối với thợ cầu Việt Nam. Với sự giúp đỡ của nhiều chuyên gia Liên Xô, thợ cầu Thăng Long đã vượt qua vấn đề về công nghệ, xây dựng được 16 trụ cầu chính trong điều kiện khó khăn.

Đến công đoạn lắp đặt những dàn dầm thép, người thợ cầu Việt Nam tiếp tục được học hỏi và tiếp xúc với quy trình công nghệ mới của Đông Âu. Những công việc phun cát, phun sơn, lắp hẫng các dàn dầm thép bằng bu-lông cường độ cao đã được người Việt Nam dựng lên trong sự kính nể của các chuyên gia Liên Xô thời điểm đó.

Với tổng chiều dài toàn bộ cầu khoảng 10,7 km, Thăng Long là cây cầu dài nhất Việt Nam tại thời điểm đó. Riêng phần cầu chính vượt sông gồm 15 nhịp dầm thép, khẩu độ mỗi nhịp 112 m. Móng trụ cầu chính đều dùng giếng chìm. Trong khi đó, phần cầu dẫn ở hai bên bờ sử dụng dầm bê tông dự ứng lực, các trụ dẫn cầu đều dùng móng cọc ống phi 55 cm.

Ngày 18/10/1983, các công nhân trên công trường đã hợp long dầm thép cuối cùng. Cầu Thăng Long chính thức khánh thành ngày 9/5/1985, sau 11 năm xây dựng, trở thành một trong những biểu tượng của tình hữu nghị Việt - Xô.

Như vậy, cầu được áp dụng những công nghệ hiện đại nhất, xứng danh với tên gọi “công trình thế kỷ”, nhất là trong hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ.